Tại sao kiêng thịt mà không kiêng cá?

2/25/2016 7:22:00 AM
 
Luật Giáo hội buộc tín hữu phải ăn chay kiêng thịt. Nhưng mà tại sao phải kiêng thịt? Tại sao phải kiêng thịt mà không kiêng cá, kiêng trứng hay kiêng trái cây? Ăn thịt có ǵ xấu không?

fish.jpg

Trước hết, nên lưu ư tới việc sử dụng từ ngữ. Tiếng “ăn chay kiêng thịt” gợi lên cho chúng ta hai điều: một điều cấm (kiêng) và một điều khuyến khích. Điều cấm là kiêng thịt; điều khuyến khích là ăn chay. Chắc chị đă biết rằng ở Việt Nam có vài tôn giáo đă hiểu như vậy: ăn chay có nghĩa là ăn đồ chay, những đồ lạt, không mặn. C̣n đối với Kitô giáo, ăn chay có nghĩa là kiêng ăn. Như thế, ngoài chuyện kiêng thịt lại c̣n thêm chuyện kiêng ăn nữa. V́ vậy nếu muốn diễn tả cho đúng tư tưởng th́ thay v́ nói “ăn chay kiêng thịt”, chúng ta phải nói “kiêng ăn kiêng thịt” hoặc là “chay ăn chay thịt”! Nếu đặt lại vấn đề như vậy th́ câu hỏi “tại sao phải kiêng thịt” đă được giải quyết một phần rồi, nghĩa là chúng ta kiêng thịt không phải tại v́ thịt nó xấu xa, cũng như chúng ta kiêng ăn không phải tại v́ sự ăn uống xấu xa: sự ăn uống cần thiết cho sự sống; nếu ai tuyệt thực hoàn toàn th́ sẽ sớm qua bên kia thế giới.

Chúng ta kiêng thịt không phải v́ nó xấu; thế th́ tại sao lại chỉ kiêng thịt mà không kiêng luôn cả cá nữa?

Vấn đề kiêng thịt không phải là cái ǵ riêng của Kitô giáo. Nó đă có một truyền thống lâu đời ở các tôn giáo trên thế giới, tuy với những lư do và động lực khác nhau. Chẳng hạn như các tín đồ Phật giáo kiêng thịt bởi v́ họ tin vào thuyết luân hồi: khi giết các súc vật, biết đâu ta đă giết chính ông bà của ḿnh bị phạt đầu thai làm kiếp súc vật. Dĩ nhiên, Kitô giáo đă đặt ra kỷ luật kiêng thịt không phải tại v́ tin theo thuyết luân hồi nhưng dựa theo một động lực khác. Trong Cựu ước, ta đă thấy có những luật về kiêng thịt với những chi tiết khá phức tạp, thí dụ trong chương 11 của sách Lê vi, phân biệt những thú vật ô uế với vật tinh tuyền.

Tại sao lại có sự phân biệt giữa các thú vật tinh tuyền với thú vật ô uế?

Các nhà chú giải Kinh thánh không trả lời được. Có lẽ tác giả của sách Lêvi đă lấy lại một tập tục có từ xa xưa mà không c̣n ai nhớ rơ gốc gác. Cho dù lư do phân loại thế nào đi chăng nữa, đến khi bước sang Tân ước, ta thấy có những cuộc cách mạng quan trọng. Chúa Giêsu đă xóa bỏ sự phân biệt giữa các vật tinh tuyền và vật ô uế. Sự tinh tuyền và ô uế nằm ở trong ḷng của ḿnh chứ thú vật chẳng có tội t́nh chi cả (Mc 7,15). Tuy nhiên, xem ra các Kitô hữu tiên khởi (phần lớn gốc Do thái) không thể thay đổi năo trạng nhanh chóng, thí dụ như ở chương 10 của sách Tông đồ công vụ, ta thấy thánh Phêrô c̣n sợ chưa dám ăn một vài thứ chim trời đă bị xếp vào hàng ô uế; lật qua chương 15 (câu 20 và 29) ta c̣n thấy thánh Giacôbê muốn đ̣i buộc các tín hữu tân ṭng phải kiêng tránh vài thức ăn. Nhưng thánh Phaolô đi mạnh mẽ hơn, nhất là v́ ngài để ư tới dân ngoại hơn là tới dân Do thái. Thực vậy, thánh Phaolô chấp nhận hoàn toàn giáo lư của đức Kitô, theo đó chẳng có lương thực nào là ô uế hết. Nhưng có một vấn đề được đặt ra là có được ăn đồ cúng hay không? Trong thư gửi Rôma 14,14-16 thánh Phaolô đă phân biệt như thế này: tự nó, đồ cúng hay đồ không cúng chẳng có ǵ khác nhau, cho nên các tín hữu không phải kiêng cữ. Tuy nhiên, nếu có người non nớt bị vấp phạm v́ việc người tín hữu ăn đồ cúng, th́ ḿnh phải tránh. Nói khác đi, ḿnh kiêng ăn đồ cúng không phải tại v́ nó là đồ ô uế nhưng mà ḿnh phải tránh gây gương xấu cho người anh em ḿnh; đây là một bổn phận thuộc giới răn bác ái yêu thương.

Như vậy, thánh Phaolô khuyến khích chúng ta cứ tha hồ ăn uống, phải không?

Thánh Phaolô không bao giờ xúi các tín hữu ăn uống say sưa; trái lại, ngài đă hơn một lần khiển trách những người lấy cái bụng làm chúa. Thánh Phaolô chỉ muốn huấn luyện lương tâm của các tín hữu, hăy t́m hiểu cái lư do của các luật lệ, chứ không phải chỉ giữ luật lệ cách máy móc. Tất cả các lương thực đều tốt bởi v́ do Chúa dựng nên cho con người. Chúng ta hăy hưởng dụng để ngợi khen Ngài. Việc ăn uống có thể trở thành cơ hội để chúc tụng tạ ơn Chúa như chúng ta đọc thấy ở thư gửi Rôma 14,6. Tuy nhiên, cần có chừng mực. Hơn thế nữa, thánh Phaolô khuyến khích các tín hữu hăy tiến thêm một bước nữa, biết hy sinh cả những cái ǵ được phép làm: việc kiêng cữ những điều tốt nằm trong chương tŕnh thao luyện tinh thần giống như các lực sĩ tập luyện ở thao trường (1Cr 9,27), nhất là để hoạ theo gương của đức Kitô chịu thụ nạn trên thập giá v́ yêu thương chúng ta.

Nhưng nếu đă muốn kiêng khem lương thực th́ kiêng hết các món, chứ sao lại chỉ kiêng thịt?

Như tôi đă nói ở đầu, trong Việt ngữ, v́ đă quá quen với thành ngữ “ăn chay kiêng thịt” cho nên chúng ta chỉ giới hạn sự kiêng vào chuyện ăn thịt. Vấn đề kiêng cữ bao hàm việc kiềm chế hết những ǵ đem lại thỏa măn thích thú, nhằm giúp cho ư chí chế ngự được bản năng. Theo một vài sử gia, trong những thế kỷ đầu tiên, Giáo hội phải mệt với những phe khắc khổ hơn là với phe phóng túng. Phe khắc khổ đ̣i Giáo hội phải ra luật buộc tất cả các tín hữu phải giữ chay. Nhưng mà Giáo hội đâu có thể bắt hết mọi người phải trở thành nhà khổ tu được. Mặt khác, trong số các vị khổ tu thời đó, không thiếu những người chịu ảnh hưởng của thuyết ngộ giáo, coi xác thịt và hôn nhân là tội lỗi. Dù sao, việc khổ chế vào những thế kỷ đầu hoàn toàn mang tính cách tự nguyện. Nếu có luật lệ th́ cũng chỉ giới hạn cho từng địa phương chứ không bao trùm toàn thể Giáo hội. Việc kiêng khem tuyệt đối thường được dành cho ngày thứ 6 tuần thánh, rồi dần dần kéo dài ra các ngày thứ 6 hằng tuần. Nhưng mà dần dần kỷ luật kiêng khem tuyệt đối (chay ăn) được gia giảm bởi v́ nhiều tín hữu phải làm việc lao động nặng nhọc, cần ăn uống để lấy sức. Mức độ châm chế được thay đổi tùy vùng tùy nơi. Bên Trung đông, người ta kiêng cả sữa, bơ, trứng; nhưng mà bên Tây phương, người ta chỉ đ̣i kiêng thịt. Từ thời Trung cổ, sự khổ chế tự nguyện biến thành khổ chế bắt buộc, nghĩa là trở thành luật buộc. Ngoài ra việc chay tịnh cũng là một h́nh phạt đền tội dành cho những hối nhân. Việc soạn thảo một bản văn pháp lư đ̣i hỏi phải xác định tỉ mỉ các chi tiết của nghĩa vụ. Hậu quả là người ta trở lại với năo trạng của các luật sĩ vào thời Chúa Giêsu, với đủ thứ vấn nạn được nêu lên: luật kiêng thịt buộc phải kiêng những thứ ǵ? Có phải kiêng mỡ heo, kiêng sữa ḅ, tiết canh hay không? Các giống động vật nào phải kiêng: máu nóng hay máu lạnh? thú vật trên bộ hay là dưới nước? Ngan, ngỗng, vịt, lươn, rùa, ṣ ốc nhái có phải kiêng không? Các chuyên gia về luân lư tha hồ mà nghiên cứu tranh luận về các loại thịt. Tiếc rằng người ta đă mất đi cái động lực của nó là tinh thần khổ chế lúc đầu. V́ thế có cảnh ngược đời là có người mong tới ngày thứ 6 để có dịp đi ăn ở nhà hàng thủy sản thập cẩm. Đối lại là cái cảnh chảy nước mắt của bao dân nghèo phải chi tiền nhiều hơn vào ngày thứ 6, khi mà cá mắc hơn thịt.

Giáo luật ngày nay vẫn giữ nguyên t́nh trạng như vậy chứ?

Bộ giáo luật hiện hành vẫn c̣n duy tŕ luật kiêng thịt, tuy nhiên với một tinh thần mới của công đồng Vaticanô II mà đức Phaolô VI đă muốn tiêm nhiễm với tông hiến Poenitemini (17/2/1966). Tinh thần đó có thể tóm lại 3 điểm sau: Tiên vàn là phải kiêng những ǵ xấu xa, tức là kiêng phạm tội; nói khác đi việc chay ăn chay thịt phải được lồng trong tinh thần thống hối cải hoán. Ngoài sự kiêng cái xấu, chúng ta hăy gắng tiến thêm một bước để kiêng cả cái tốt: sự kiêng cái tốt cũng nằm trong tinh thần đền tội và tu đức, để tập kiềm chế những đ̣i hỏi của bản năng dục vọng. Dưới khía cạnh này, lănh vực kiêng khem rất là rộng: từ kiêng ăn uống cho tới kiêng thuốc lá, tivi, các thứ tiêu khiển giải trí, các thứ tiêu pha hoang phí. Bước thứ ba nữa là ngoài tính cách tiêu cực (kiêng lánh) cần thêm tính cách tích cực: nhịn ăn nhịn mặc để lấy tiền giúp đỡ người nghèo, tỏ t́nh tương trợ với người thiếu ăn thiếu mặc. Đó là cái động lực của việc kiêng khem. Các Hội đồng Giám mục sẽ tùy theo hoàn cảnh của mỗi địa phương mà đề ra những h́nh thái cụ thể trong việc áp dụng luật ăn chay kiêng thịt chiếu theo đ.1251 và 1253 của bộ giáo luật.

 

Lm. Phan Tấn Thành, O.P.
DaminhVN 24.02.2016